16 Cổng Kết Nối Thường Thấy Trên Máy Tính Và Chức Năng Của Chúng


Một cổng kết nối trên máy tính nhập vai trò như là một giao diện hay đơn giản là một điểm kết giao tiếp giữa máy tính và các thiết bị ngoại vi khác. Một số thiết bị ngoại vi phổ biến đặc biệt là chuột, bàn phím, màn hình hoặc các thiết bị hiển thị, máy in, loa, ổ flash…

Chức năng chính của một cổng máy tính là hoạt động như 1 điểm gắn kết, nơi mà cáp từ thiết bị ngoại vi có thể được cắm vào và thông qua đó, cho phép dữ liệu truyền đi và đến thiết bị.

Các cổng kết nối trên máy tính cũng được gọi là các cổng giao tiếp vì nó có trách nhiệm liên lạc giữa máy tính và thiết bị ngoại vi của máy tính đó. Nhìn chung thì máy tính thường chứa các đầu cái (female) của các cổng kết nối, và các cổng này thường nằm trên bo mạch chủ.

Trong máy tính, các cổng giao tiếp có thể được chia thành hai dạng dựa theo loại hoặc giao thức được dùng để làm kết nối. Chúng là Serial Ports và Parallel Ports.

Cổng nối tiếp là một giao diện mà qua đó các thiết bị ngoại vi cũng có thể có thể được kết nối bằng phương pháp sử dụng một giao thức nối tiếp liên quan đến việc truyền dữ liệu một bit tại một thời điểm trên một băng thông duy nhất. Loại cổng tiếp nối phổ biến đặc biệt là đầu D-Subminiature hoặc đầu nối D-sub mang tín hiệu RS-232.

Mặt khác, một cổng Parallel Port là một dạng giao diện mà tin tức giữa máy tính và thiết bị ngoại vi của nó được kết nối theo phương pháp song song, tức là dữ liệu được truyền vào hoặc ra song song bằng phương pháp sử dụng nhiều hơn một đường truyền hoặc dây dẫn. Cổng máy in là một thí dụ về cổng song song Parallel Port.

Dưới này là những tin tức ngắn gọn về các dòng cổng khác nhau cùng theo với những ứng dụng trong thực tiễn của chúng.

16 cổng kết nối dễ thấy trên máy tính và chức năng của chúng

  • PS/2
  • Cổng Serial Port
    • DB-25
    • DE-9 hay còn gọi là RS-232 hoặc Cổng COM
  • Cổng đi đôi Parallel Port (hay còn được xem là cổng 36 chân Centronics)
  • Các cổng âm thanh
    • Các đầu nối âm thanh vòm (hay còn xem là đầu nối TRS 3,5 mm)
  • S/PDIF/TOSLINK
  • Các cổng video
    • Cổng VGA
  • Giao diện video kỹ thuật số (Digital Video Interface – DVI)
    • Mini-DVI
    • Micro-DVI
  • Cổng Display Port
  • Đầu nối RCA
  • Component Video
  • S-Video
  • HDMI
  • USB
    • USB type A
    • USB Type C
  • RJ-45
  • RJ-11
  • e-SATA

PS/2

PS/2 là một dạng kết nối được IBM phát triển để kết nối chuột và bàn phím với máy tính. Giao diện PS/2 là một loại đầu nối 6 chân MINI DIN (DIN – Deutsches Institut fur Normung – là một chuẩn giao diện được phát triển bởi Viện khoa học về Định chuẩn của Đức). PS/2 là biệt hiệu của hãng máy tính cá nhân do hãng IBM sản xuất vào năm 1987 (thuộc dòng 286). Dòng máy này giới thiệu các chuẩn mới như: Micro Channel Bus (sau này được thay thế bởi chuẩn PCI), card màn hình (VGA Graphics), ổ đĩa mềm 3.5 inch và các cổng giao tiếp PS/2 cho bàn phím và chuột. Do vậy, khi được sử dụng rộng rãi cho mọi người và đã được phát triển trên đủ loại máy tính khác nhau thì người ta vẫn gọi giao diện đây là cổng PS/2. Máy tính để bàn (desktop) thường sẽ có hai cổng PS/2 biệt lập – một dùng cho bàn phím cùng một dùng cho chuột (được phân biệt bằng màu tím cho bàn phím và màu xanh lá cây cho chuột). Máy tính xách tay (laptop) thường có một cổng PS/2 dùng chung cho cả bàn phím và chuột gắn bên ngoài.

PS/2

Mặc dù sơ đồ chân của các cổng PS/2 là như nhau, máy tính vẫn đòi hỏi các thiết bị ngoại vi phải được kết nối đúng cổng.

Cổng PS/2 bây giờ gần như đã lỗi thời và không còn được dùng trên các thiết bị đời mới nữa. Cổng USB đã thay thế PS/2 với sự tiện dung của mình.

Cổng Serial Port

Mặc dù giao tiếp trong PS/2 và USB là nối tiếp, về mặt kỹ thuật, thuật ngữ cổng nối tiếp Serial Port được sử dụng để tham chiếu đến các giao diện tương thích với chuẩn RS-232. Có hai loại cổng tiếp nối thường được tìm thấy trên máy tính là DB-25 và DE-9.

Ngày nay, do vận tốc truyền dữ liệu chậm hơn so với những cổng mới ra đời nên các cổng nối tiếp đang dần bị loại bỏ trong những chuẩn máy tính hiện nay, chúng được thay thế bằng các cổng có vận tốc mau hơn như: USB, FireWire.

DB-25

DB-25 là một biến thể của đầu nối D-sub và là cổng gốc của giao tiếp nối tiếp RS-232. Chúng được phát triển như là loại cổng chính cho những kết nối tiếp nối sử dụng giao thức RS-232.

Giao thức DE-9 được phát triển cho kết nối nối tiếp dựa trên RS-232 trong lúc DB-25 ít khi được sử dụng như một cổng tiếp nối và thường được dùng như 1 cổng máy in song song như một sự thay thế cho đầu nối Centronics Parallel 36 pin.

DE-9 hay còn coi là RS-232 hoặc Cổng COM

DE-9 là cổng chính sử dụng cho giao tiếp tiếp nối RS-232. Nó là một đầu nối D-sub với lớp vỏ E và thường bị lầm lẫn là DB-9. Cổng DE-9 cũng đã được gọi là cổng COM và cấp phép giao tiếp tiếp nối kép toàn diện giữa máy tính và thiết bị ngoại vi.

Một số ứng dụng của cổng DE-9 là trong giao diện tiếp nối với chuột, bàn phím, modem, nguồn cấp điện liên tiếp (UPS) và các thiết bị tương thích với RS-232 khác.

Sơ đồ chân của cổng DE-9 được hiển thị ở hình bên dưới.

Cổng COM

Ngày nay, các cổng DB-25 và DE-9 ít được sử dụng hơn và đang dần được thay thế bằng USB hoặc các cổng khác.

Cổng song song Parallel Port (hay còn được gọi là cổng 36 chân Centronics)

Cổng Parallel Port (cổng song song) là một giao diện kết nối giữa máy tính và các thiết bị ngoại vi như máy in có sử dụng giao tiếp song song. Cổng Centronics là một cổng có 36 chân, được sáng kiến nhằm mục tiêu trở thành môi trường kết nối cho máy in, máy quét với máy tính và do đó, một cổng Parallel Port cũng mang tên thường gọi khác là cổng Centronics.

Trước lúc các cổng USB được sử dụng rộng rãi, các cổng Parallel Port được sử dụng rất phổ biến trên các hãng máy in. Cổng Centronics này sau kia được thay thế bằng cổng DB-25 với giao diện song song.

 Parallel Port

Các cổng âm thanh

Các cổng âm thanh được dùng làm kết nối loa hoặc các thiết bị đầu ra âm thanh khác với máy tính. Các tín hiệu âm thanh có thể là analog hoặc kỹ thuật số tùy thuộc vào loại cổng và đầu nối tương ứng khác nhau.

Các đầu nối âm thanh vòm (hay còn xem là đầu nối TRS 3.5 mm)

Đây là loại cổng âm thanh được tìm thấy thông dụng nhất trên các thiết bị và còn được biết đến cho đến ngày nay. Cổng âm thanh 3.5mm có thể được sử dụng để kết nối tai nghe stereo hoặc các kênh âm thanh khác. Một hệ thống kết nối 6 cổng 3.5mm được áp dụng trên phần lớn các máy tính cho chuyện phát âm thanh cũng như kết nối với micrô.

Một hệ thống kết nối 6 cổng 3.5mm thường sử dụng các màu phân biệt kể cả xanh lam, vàng chanh, hồng, cam, đen và xám. Có thể sử dụng 6 đầu nối này cho cấu hình âm thanh vòm lên đến 8 kênh.

Các đầu nối âm thanh vòm (hay còn gọi là đầu nối TRS 3,5 mm)

S/PDIF/TOSLINK

Định dạng Giao diện Kỹ thuật số Sony/Phillips (Sony/Phillips Digital Interface Format – S/PDIF) là một kết nối âm thanh được dùng trong số hệ thống truyền thông gia đình. Nó hỗ trợ âm thanh kỹ thuật số và có thể được truyền bằng cáp RCA Audio đồng trục hoặc đầu nối TOSLINK sợi quang.

Hầu hết các hệ thống giải trí tại gia hay máy tính đều được chuẩn bị S/PDIF trên TOSLINK. TOSLINK (Toshiba Link) là một loại cổng âm thanh kỹ thuật số được dùng phổ biết nhất cũng có thể có thể hỗ trợ âm thanh vòm 7.1 với chỉ một sợi cáp. Trong hình minh họa dưới đây, cổng bên cần là cổng S/PDIF.

Cổng bên phải là cổng S/PDIF.

Các cổng video

Cổng VGA

Cổng VGA thường được tìm thấy trên máy tính, máy chiếu, video card và trên các TV bổ trợ độ phân giải cao. VGA (viết tắt của Video Graphics Array) là một chuẩn hiển thị được giới thiệu năm 1987 từ hãng IBM cùng loại máy tính PS/2. Nó dùng để làm hỗ trợ việc kết nối từ laptop tới các thiết bị công chiếu (máy chiếu, màn hình ngoài…) thông qua dây cáp. VGA là một cổng D-sub kể cả 15 chân kết nối được xếp theo 3 hàng. Đầu nối của cổng VGA được xem là DE-15, bổ trợ nhiều chuẩn độ phân giải 640x400px, 1280x1024px, hiện nay có thể lên đến 1920×1080 px (FullHD), 2048x1536px.

Cổng VGA

Với nhu cầu thư giãn thông qua video kỹ thuật số ngày càng gia tăng, các cổng VGA đang dần được thay thế bằng cổng HDMI và cổng Display. Một số máy tính xách tay được chuẩn bị cổng VGA ngay trên bo mạch để kết nối với màn hình hoặc máy chiếu bên ngoài. Sơ đồ chân kết nối của cổng VGA được hiển thị ở thí dụ minh họa bên dưới.

Sơ đồ chân kết nối của cổng VGA

Giao diện video kỹ thuật số (Digital Video Interface – DVI)

DVI là giao diện kỹ thuật số tốc chiều cao giữa bộ điều khiển hiển thị như máy tính và thiết bị hiển thị như màn hình. Nó được phát triển với mục đích truyền tín hiệu video số mà không làm giảm chất lượng và thay thế cho công nghệ VGA có chức năng tương tự.

Giao diện video kỹ thuật số (Digital Video Interface - DVI)

Có ba loại đầu kết nối DVI được thiết kế dựa loại trên tín hiệu mà chúng cũng có thể mang theo, đó là DVI-I, DVI-D và DVI-A. DVI-I là cổng DVI với tín hiệu analog và kỹ thuật số tích hợp. DVI-D chỉ bổ trợ tín hiệu kỹ thuật số và DVI-A chỉ bổ trợ tín hiệu analog.

Các tín hiệu kỹ thuật số cũng đều có thể là các liên kết đơn hoặc liên kết kép trong đấy một liên kết đơn sẽ bổ trợ tín hiệu kỹ thuật số với độ nét 1920X1080 và liên kết kép bổ trợ tín hiệu kỹ thuật số có tính phân giải lên đến 2560X1600. Hình ảnh minh họa dưới đây so sánh cấu trúc của các loại DVI-I, DVI-D và DVI-A cùng với những lược đồ chân kết nối của chúng.

 Cấu trúc của các loại DVI-I, DVI-D và DVI-A cùng với các sơ đồ chân kết nối của chúng.

Mini-DVI

Cổng Mini-DVI được phát triển bởi Apple như là một biện pháp thay thế cho cổng Mini-VGA và có kiểu dáng gần giống như Mini-VGA. Nó nhỏ hơn cổng DVI thông thường một chút.

Mini-DVI là một cổng nắm giữ 32 chân kết nối và có khả năng truyền tín hiệu DVI, composite, S-Video và VGA với những bộ điều hợp tương ứng. Hình ảnh sau đây minh họa một cổng Mini-DVI và loại cáp tương thích của nó.

Mini-DVI

Micro-DVI

Như có thế thấy được ngay ở tên gọi, Cổng Micro-DVI có kích cỡ nhỏ hơn so với Mini-DVI và chúng chỉ có khả năng truyền tín hiệu kỹ thuật số mà thôi.

Cổng này còn cũng đều có thể được kết nối với những thiết bị bên phía ngoài với giao diện DVI và VGA và bắt buộc phải sử dụng các bộ điều hợp tương ứng. Trong hình dưới đây, một cổng Micro-DVI có thể được đặt bên cạnh cổng USB và tai nghe.

Micro-DVI

Cổng Display Port

Display Port là một giao diện hiển thị kỹ thuật số với đa tùy chọn kênh âm thanh và các dạng dữ liệu khác. Cổng Display Port được phát triển với mục tiêu thay thế cho cổng VGA và DVI làm giao diện chính giữa máy tính và màn hình.

Phiên bản mới nhất của cổng Display Port là DisplayPort 1.3 cũng đều có thể xử lý độ nét lên tới 7680 X 4320.

Cổng Display Port

Cổng Display có 20 chân kết nối, đó là một số lượng khá khiêm nhường khi so sánh với cổng DVI trong khi lại cung cấp độ sắc nét tốt hơn. Sơ đồ chân kết nối của Cổng Display Port được minh họa ở hình bên dưới.

Cổng Display có 20 chân kết nối

Đầu nối RCA

Đầu nối RCA có thể truyền tín hiệu video composite và âm thanh stereo qua ba cáp kết nối. Trong đó, cổng Composite Video sẽ truyền các tín hiệu video analog và đầu nối được ký hiệu màu vàng. Các tín hiệu video được truyền qua một kênh đơn cùng theo với những đồng bộ hóa khung hình ở độ phân giải tối đa 576i (độ phân giải tiêu chuẩn).

Các đầu nối màu đỏ và trắng được sử dụng cho tín hiệu âm thanh stereo (màu đỏ cho kênh bên phải và màu trắng cho kênh bên trái).

Đầu nối RCA

Component Video

Component Video là một giao diện nơi các tín hiệu video được chia thành nhiều hơn hai kênh và chất lượng của tín hiệu video tốt hơn so với Composite Video.

Cũng giống như Composite Video, Component Video chỉ truyền các tín hiệu video và hai đầu nối riêng biệt phải được dùng cho âm thanh stereo. Cổng Component Video cũng có thể có thể truyền cả tín hiệu video analog và tín hiệu kỹ thuật số.

Các cổng Component Video thường sử dụng sử dụng 3 đầu nối và đã được phân biệt bằng các màu là xanh lục, xanh lam và đỏ.

Component Video

S-Video

S-Video hay còn được coi là Separate Video connector (đầu nối video riêng biệt) chỉ được sử dụng để truyền tín hiệu video. Chất lượng hình ảnh truyền qua S-Video là tốt hơn so với Composite Video nhưng lại có tính phân giải thấp hơn Component Video.

Cổng S-Video thường có màu đen và được sử dụng trên hầu như mọi thứ các TV và đa số các máy tính. Cổng S-Video trông gần tương tự như cổng PS/2 nhưng chỉ cho dù là 4 chân kết nối mà thôi.

S-Video

Trong số 4 chân kết nối này, một chân được sử dụng để truyền đạt tín hiệu cường độ (đen và trắng) cùng một chân khác được dùng làm mang tín hiệu màu. Các chân này đều có pin tiếp đất tương ứng. Sơ đồ chân kết nối của cổng S-Video được hiển thị ở hình bên trên.

HDMI

HDMI là viết tắt của High-Definition Multimedia Interface, tức là giao diện đa phương tiện có tính phân giải cao. HDMI là giao diện kỹ thuật số để kết nối các thiết bị có độ sắc nét cao và siêu nét như màn hình máy tính, HDTV, đầu đĩa Blu-Ray, các thiết bị chơi game hay máy ảnh độ nét cao, v.v.

Đầu cáp HDMI được cấu tạo bao gồm 19 chân, mỗi chân đảm nhiệm một trọng trách không trùng lặp và trong công đoạn truyền dữ liệu thì sẽ phải tuân thủ theo nguyên tắc nhất định. Cáp HDMI thường được hỗ trợ chất lượng âm thanh chuẩn của phòng thu, nên người sử dụng tận gốc yên tâm khi dùng nó để chuyển qua một thiết bị khác. Phiên bản HDMI mới nhất, tức là HDMI 2.0 cũng có thể có thể mang tín hiệu video kỹ thuật số có tính phân giải lên đến 4096 × 2160 và 32 kênh âm thanh. Ngoài ra, HDMI có thể được sử dụng để truyền tải tín hiệu video không nén và tín hiệu âm thanh cả nén hoặc không nén. Cổng HDMI loại A được minh họa ở hình bên dưới.

HDMI

USB

USB là viết tắt của Universal Serial Bus, được dùng làm thay thế các dòng cổng nối tiếp, cổng song song, đầu nối PS/2, cổng trò chơi và làm cổng nạp điện cho những thiết bị di động. USB đầu tiên được dùng để kết nối các thiết bị ngoại vi với máy tính, chúng thường được thiết kế dưới dạng các đầu cắm cho những thiết bị tuân theo chuẩn cắm-và-chạy mà với tính năng cắm nóng thiết bị (nối và ngắt các thiết bị chẳng càng phải khởi động lại hệ thống).

Cổng USB cũng đều có thể được dùng để làm truyền dữ liệu, nó hoạt động như một giao diện cho những thiết bị ngoại vi và thậm chí hoạt động như nguồn cấp điện cho những thiết bị kết nối với nó. Có ba loại cổng USB: type A, type B hay còn được biết đến với tên USB mini và Micro USB.

USB type A

Cổng USB loại A là một đầu nối 4 chân. Có biết bao những phiên bản USB type A không giống nhau như USB 1.1, USB 2.0 và USB 3.0. Trong đó USB 3.0 là chuẩn chung và hỗ trợ tốc độ dữ liệu lên tới 400MBps.

USB 3.1 cũng từng được ra mắt và hỗ trợ vận tốc dữ liệu lên đến 10Gbps. USB 2.0 được mã hóa với màu đen trong lúc USB 3.0 có màu xanh dương. Hình ảnh sau đây mô tả các cổng USB 2.0 và USB 3.0.

USB type A

Sơ đồ chân kết nối của cổng USB type A được hiển thị ở hình ảnh dưới đây. Sơ đồ chân kết nối này là điển hình cho cả những chỉ tiêu của USB type A.

Sơ đồ chân kết nối của cổng USB type A

USB Type C

Cổng USB type C kể cả 24 chân kết nối. Sơ đồ chân kết nối của 1 cổng USB type C được hiển thị ở hình ảnh dưới đây. Ngoài ra, USB type C cũng cũng đều có thể xử lý được dòng điện 3A.

USB Type C

Tính năng xử lý dòng điện cao này được ứng dụng trong Công nghệ sạc nhanh mới nhất, cho phép pin của điện thoại thông minh sẽ có sạc đầy mau chóng hơn và tiện lợi hơn.

USB Type-C là chuẩn USB mới (USB 3.1), có khả năng thay thế cho 5 kết nối kể cả HDMI, VGA, USB, Display Port, cổng sạc và còn cũng có thể có thể nhiều kết nối khác.

Về cơ bản, USB Type-C là một chuẩn USB mới với đầu jack kết nối có thể cắm cả 2 mặt. Điều này đồng nghĩa, chúng ta sẽ không cần phân biệt mặt trước, mặt sau như những cổng USB trước đây. Bên cạnh đó, kích cỡ đầu kết nối của USB Type-C nhỏ gọn hơn so với Type-A truyền thống.

Sơ đồ USB Type-C

RJ-45

Như chúng ta đều biết, Ethernet là một công nghệ mạng được sử dụng để kết nối máy tính của bạn với Internet và giao tiếp với các máy tính hoặc thiết bị mạng khác.

Giao diện kết nối được dùng cho mạng máy tính và trong viễn thông được gọi là Registered Jack (RJ) và cổng RJ-45 nói riêng được sử dụng cho Ethernet thông qua cáp. Đầu nối RJ-45 là đầu nối kiểu mô-đun 8 chân 8 (8P – 8C).

Công nghệ Ethernet mới nhất được xem là Gigabit Ethernet và hỗ trợ tốc độ truyền dữ liệu trên 10Gigabits mỗi giây. Ethernet hoặc cổng LAN có đầu nối loại 8P – 8C cùng theo với cáp RJ-45 male được hiển thị ở hình ảnh bên dưới.

Đầu nối mô-đun 8P – 8C không có khóa thường được gọi là Ethernet RJ-45. Thông thường, các cổng RJ-45 được trang bị hai đèn LED thông báo phát giác truyền dữ liệu và gói lưu lượng.

Như đã nhắc đến trước đó, một cổng Ethernet RJ-45 có 8 chân kết nối và hình dưới đây mô tả lược đồ kết nối trong một cổng RJ-45.

RJ-45

RJ-11

RJ-11 là một loại Jack Registered khác được sử dụng làm giao diện kết nối cho điện thoại bàn, modem hoặc ADSL. Mặc dù máy tính hầu như không bao giờ được chuẩn bị cổng RJ-11 nhưng chúng là giao diện chính trong tất cả các cấu hình mạng viễn thông.

Các cổng RJ-45 và RJ11 trông qua thì giống nhau nhưng RJ-11 có kích cỡ nhỏ hơn và sử dụng đầu nối 6 điểm – 4 kết nối (6P – 4C) mặc dù tiếp điểm 6 – 2 (6P – 2C) là đủ. Dưới này là hình ảnh của cổng RJ-11 và đầu nối tương thích của nó.

RJ-11

Có thể sử dụng hình ảnh sau đây để đối chiếu giữa các cổng RJ-45 và RJ-11.

So sánh giữa các cổng RJ-45 và RJ-11.

e-SATA

e-SATA là một đầu nối Serial AT Attachment gắn rời, được sử dụng như một giao diện để kết nối các thiết bị lưu trữ khối (mass storage devices). Kết nối e-SATA tối tân được gọi là e-SATAp và là viết tắt của cổng Power e-SATA.

Chúng là các cổng lai có khả năng bổ trợ cả e-SATA và USB. Cả tổ chức SATA và tổ chức USB đều không chính thức phê duyệt cổng e-SATAp và người dùng sẽ phải sử dụng bất chấp những rủi ro.

e-SATA

Hình ảnh trên là một cổng e-SATAp. Nó cho thấy rằng cả 2 thiết bị e-SATA và USB đều cũng đều có thể kết nối được.

Xem thêm:

  • Chức năng cơ bản của một số cổng kết nối HDMI
  • So sánh vận tốc các chuẩn kết nối
  • Sự khác biệt giữa HDMI và DVI
  • Phân biệt các loại dây cáp máy tính phổ biến

Sưu Tầm: Internet – Kênh Tin: TopVn

DỊCH VỤ NẠP MỰC MÁY IN TẬN NƠI HCM

19OO636343


Bài Viết Liên Quan


DỊCH VỤ NẠP MỰC MÁY IN TẬN NƠI HCM

19OO636343

Bài Viết Khác